• 5_a2ca8e4da3
  • 4_1572ca87ff
  • DJI_0374_-_Copy_37135
  • z6904929487605_c18df4c05dcfff0b5a00a83c0609e38f_5c25d
  • DJI_0428_8c5c2
  • DJI_0430_e5db1
  • DJI_0427_63f8f
  • DJI_0428_585e9
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU (19/10/1946 - 19/10/2026)

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, địa bàn Quân khu 2 luôn có vị trí chiến lược rất quan trọng về quốc phòng - an ninh. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân khu 2 là thủ đô kháng chiến, là địa bàn diễn ra nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh lớn, như Chiến dịch Thu Đông 1947, Chiến dịch Biên Giới 1950… đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954, quân và dân các dân tộc Tây Bắc đã góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt gần một thế kỷ xâm lược đất nước ta. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Quân khu 2 là hậu phương chiến lược cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn Miền Nam, trực tiếp đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng đường không của chúng và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả trên đất bạn Lào, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược tới thắng lợi hoàn toàn. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu đã cùng quân và dân các dân tộc Tây Bắc kiên cường, anh dũng chiến đấu, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, tạo điều kiện ổn định, hòa bình để tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Trong thời kỳ đổi mới, LLVT Quân khu luôn hoàn thành tốt và xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vững bước đi lên xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN). 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; được Nhân dân các dân tộc Tây Bắc tin yêu, đùm bọc; cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu luôn giữ vững và phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, viết nên truyền thống vẻ vang “Trung thành, tự lực, đoàn kết, anh dũng, chiến thắng”. Với rất nhiều cống hiến, thành tích, chiến công xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, LLVT Quân khu đã được Đảng, Nhà nước và nước bạn Lào anh em trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.


 

Năm 2026, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống LLVT Quân khu được Đảng, Nhà nước tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng LLVT Nhân dân”. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống LLVT Quân khu (19/10/1946 - 19/10/2026) và đón nhận danh hiệu “Anh hùng LLVT Nhân dân”. Cục Chính trị Quân khu biên soạn Đề cương truyền thống 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của LLVT Quân khu làm tài liệu cơ bản để tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho cán bộ, chiến sĩ trong LLVT Quân khu và Nhân dân các dân tộc trên địa bàn; qua đó tiếp tục khơi dậy lòng tự hào, phát huy truyền thống vẻ vang, quyết tâm phấn đấu, vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; chung sức, đồng lòng cùng cả nước vững vàng tiến vào Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên phồn vinh, thịnh vượng và phát triển của dân tộc Việt Nam.

Phần thứ nhất
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 2 - 80 NĂM XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

I. SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA LLVT QUÂN KHU 2 TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)
1. Tình hình các địa phương trên địa bàn Quân khu sau Cách mạng tháng Tám thành công

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội, trước toàn thể quốc dân, đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam), từ thời điểm này đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ độc lập tự do, kết thúc sự cai trị của chính quyền thực dân và phong kiến.

Sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là thành quả của phong trào cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo đó là thắng lợi của một dân tộc thuộc địa, dám vùng lên chống lại ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân đế quốc.

Cách mạng tháng Tám thành công, hầu hết các địa phương trên cả nước đều giành được chính quyền về tay Nhân dân lao động. Nhưng trên địa bàn Quân khu các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang và thị xã Vĩnh Yên, do tổ chức đảng và cơ sở cách mạng chưa đủ mạnh nên không có khởi nghĩa hoặc khởi nghĩa không thành công. Tình hình các địa phương trên địa bàn Quân khu vào thời điểm này diễn ra vô cùng phức tạp, phong trào cách mạng đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Tháng 11/1945, hai tiểu đoàn quân Pháp từ Vân Nam - Trung Quốc kéo vào Lai Châu chiếm đóng với ý đồ chiếm lại toàn bộ vùng Tây Bắc. Trước tình hình Tổ quốc lâm nguy, vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua ghềnh thác, lãnh đạo toàn thể dân tộc, tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, khôn khéo dũng cảm, kiên quyết đấu tranh, để bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám

Như vậy vấn đề cấp bách được đặt ra cho quân và dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu lúc này là: Tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng ở những địa phương
đã giành được chính quyền về tay Nhân dân; còn những nơi ta chưa giành được chính quyền thì nhanh chóng đấu tranh để thiết lập chính quyền về tay Nhân dân, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu của thực dân Pháp và các thế lực phản động.

2. Công tác xây dựng lực lượng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược và bọn phản động tay sai

Tháng 10 năm 1945, Chính phủ quyết định thành lập các Chiến khu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 11 để lãnh đạo và chỉ huy chiến đấu; các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang thuộc Chiến khu 1. Tỉnh Sơn La, Lai Châu cùng với các tỉnh khác thuộc Chiến khu 2.

Trong một thời gian ngắn (từ cuối năm 1945 đến cuối năm 1946) các đơn vị Vệ quốc đoàn lần lượt ra đời gồm: Chi đội giải phóng quân Trưng Trắc ở Vĩnh Yên, Chi đội giải phóng quân Trần Quốc Toản ở Phú Thọ, Chi đội giải phóng quân 3 ở Sơn La sau này trở thành Trung đoàn 148, Sư đoàn 316. Tháng 11/1945 Trung ương Đảng quyết định thành lập mặt trận Tây Bắc để ngăn chặn bước tiến của quân Pháp xâm lược.

Ngày 19/10/1946 Chiến khu 10 được thành lập do đồng chí Bằng Giang làm Tư lệnh, đồng chí Xuân Thu làm Chính trị ủy viên. Trước những thay đổi của tình hình chiến sự trong cả nước và để phù hợp với điều kiện mới của cuộc kháng chiến, Đảng và Chính phủ quyết định phân chia lại các đơn vị hành chính và quân sự. Tháng 9/1947 huyện Mai Đà (Hòa Bình) và vùng tây nam Phú Thọ của Khu 10 sáp nhập với Sơn La, Lai Châu thành Khu 14. Năm 1948 thực hiện chỉ thị của trên, Khu 10 và Khu 14 được sáp nhập thành Liên khu 10. Lúc này địa bàn Liên khu 10 gần như trùng với địa bàn Quân khu 2 hiện nay. Đồng chí Bùi Quang Tạo làm Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban
hành chính kháng chiến của Liên khu, đồng chí Bằng Giang làm Tư lệnh Liên khu, đồng chí Lê Trọng Tấn làm Liên khu phó. Tháng 11/1949 do yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến, Liên khu 10 và Liên khu 1 sáp nhập thành Liên khu Việt Bắc, ngoài Bộ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc, Trung ương Đảng quyết định thành lập thêm Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Bắc đảm nhiệm chỉ huy tác chiến trên 4 hướng của các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai; đồng chí Bằng Giang được cử làm Tư lệnh, đồng chí Song Hào làm Chính ủy mặt trận.

3. Lực lượng vũ trang Quân khu tham gia đấu tranh chống phá hoại của bọn phản động tay sai

Với dã tâm trở lại xâm lược Việt Nam, ngày 23/9/1945 thực dân Pháp đã nổ

súng gây hấn ở Sài Gòn, ở miền Bắc 20 vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa quân đồng minh tràn vào giải giáp quân đội Nhật, hòng tiêu diệt Đảng Cộng sản Việt Nam, tiêu diệt Việt Minh, giúp bọn phản động và tay sai lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ. Trước tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám.

Trên địa bàn Quân khu, ngày 13/6/1948 quân và dân thị xã Yên Bái đã tấn công vào sào huyệt của Quốc Dân Đảng, giải phóng hoàn toàn thị xã Yên Bái khỏi sự kiểm soát của Quốc Dân Đảng. Tháng 8/1946 thực hiện chủ trương của trên, LLVT Liên khu 1 đã tổ chức chiến dịch dẹp trừ Quốc Dân Đảng phản động trên dọc tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai; đồng chí Bùi Quang Tạo, xứ ủy viên Bắc Kỳ và đồng chí Bằng Giang Tư lệnh khu, trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, quân và dân ta đã lần lượt giải phóng thị xã Vĩnh Yên, Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ, Yên Bái, Phố Lu, Lào Cai.

Trong quá trình giải phóng Lào Cai, các đơn vị lực lượng vũ trang Khu 10 đã tích cực chủ động chiến đấu dũng cảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần to lớn vào thắng lợi chung trong cuộc chiến đấu chống Quốc Dân Đảng phản động

Ở Hà Giang đã tổ chức một Đại đội cảnh vệ, quân số 500 người phối hợp chặt chẽ với chủ lực Chiến khu tiến hành bao vây khoanh vùng đấu tranh làm tan giã tổ chức phản động và bắt giữ xử lý những tên đầu sỏ phản động tay sai, đến đầu năm 1947 các lực lượng vũ trang Hà Giang cùng với đồng bào các dân tộctrên địa bàn xoá sổ các nhóm phản động tay sai của Quốc Dân Đảng. Thắng lợi của cuộc đấu tranh gian khổ quyết liệt chống quân Tưởng và bè lũ phản động Quốc Dân Đảng trong những năm 1945 - 1946 thể hiện sách lược đấu tranh tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho LLVT và Nhân dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu, chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược

4. Chiến đấu chống thực dân Pháp quay lại xâm lược, góp phần đánh bại chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh” của chúng

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, LLVT của ta còn rất non trẻ, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, điều kiện sinh hoạt và các mặt bảo đảm khác còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Song được sự yêu thương đùm bọc, chở che, giúp đỡ của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, cán bộ, chiến sĩ LLVT đã anh dũng chiến đấu chống lại cuộc hành binh lấn chiếm của thực dân Pháp cũng như các hành động phá hoại, khiêu khích của các thế lực phản động.

Thu Đông năm 1947 quân và dân Khu 10, Khu 11, Khu 14 đã dũng cảm chiến đấu tiêu diệt phần lớn cánh quân Com - muy - nan, bẻ gãy “gọng kìm Sông Lô” trong chiến dịch tiến công lên Việt Bắc của thực dân Pháp. Trung đoàn 148 tích cực chặn đánh địch bảo vệ phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ; Trung đoàn 92 Phú Yên chiến đấu ngoan cường chặn đứng các cuộc tiến công của địch từ Nghĩa Lộ, Than Uyên ra phía ven hữu ngạn Sông Hồng; Trung đoàn 87, Trung đoàn 112 và các Trung đội Pháo binh của Quân khu đã tổ chức nhiều trận phục kích, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề trên đường số 2 và trên Sông Lô. Đến tháng 12/1947 gọng kìm phía Tây của thực dân Pháp đã bị bẻ gãy. Quân và dân Khu 10 đã viết nên bản hùng ca Sông Lô hào hùng với những chiến thắng Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bình Ca, Khe Lau, Mác Khan… Trên mặt trận Sông Lô quân và dân Khu 10 đã tiêu diệt được 1.200 tên địch, bắn chìm và cháy 15 tàu chiến các loại của thực dân Pháp.

Năm 1950 LLVT Tây Bắc phối hợp chặt chẽ với lực lượng chủ lực của Bộ mở chiến dịch Lê Hồng Phong 1 và chiến dịch Lê Hồng Phong 2, giải phóng toàn bộ tỉnh Lào Cai, huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang) và một phần của tỉnh Yên Bái. Tháng 3/1948 Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu đã quyết định mở Chiến dịch Nghĩa Lộ, kết quả là ta đã buộc địch phải rút khỏi 7 vị trí, gọi hàng 163 ngụy binh. Trong Chiến dịch Sông Đà tháng 2/1949, Chiến dịch Sông Thao tháng 3/1949 và các Chiến dịch khác với quy mô vừa và nhỏ, các đơn vị của ta đã đánh 436 trận, tiêu diệt 2.683 tên địch, bắt sống 353 tên, gọi hàng 562 tên, thu 500 súng các loại, 6 tấn đạn và nhiều vũ khí, quân dụng khác của chúng. Phá vỡ mảng lớn và làm suy yếu tuyến phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Bắc

Từ ngày 08/2 - 10/3/1950, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Bắc tiếp tục mở Chiến dịch Lê Hồng Phong 1, đồng chí Bằng Giang Tư lệnh mặt trận Tây Bắc được giao làm Chỉ huy trưởng Chiến dịch, đồng chí Song Hào Chính ủy mặt trận Tây Bắc được giao làm Chính ủy Chiến dịch. Kết quả đã tiêu diệt 470 tên địch, làm bị thương 230 tên, bắt và gọi hàng 191 tên, phá và thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng của địch, giải phóng trên 1000 km2 với hơn 1 vạn dân.

Cuối năm 1950, đầu năm 1951, LLVT Tây Bắc tham gia chiến dịch Trần Hưng Đạo giải phóng một phần phía Bắc tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 3/1951 Trung đoàn 148 cùng bộ đội địa phương các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai đuổi đánh hơn 1000 tàn quân của Tưởng Giới Thạch tràn sang đất ta, tiêu diệt hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng các loại của chúng.

Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt (tháng 10/1951), tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc (năm 1952) ta đã tiêu diệt 1.005 tên địch, bắt sống 5.024 tên, diệt gọn 4 Tiểu đoàn và 24 Đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều Tiểu đoàn cơ động của địch, giải phóng vùng đất rộng 28.500 km2 với 25 vạn dân.

Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1953, phối hợp với bộ đội chủ lực, quân và dân Tây Bắc đã tiến công phỉ ở khắp nơi, tiêu diệt trên 7.000 tên, hoàn thành tốt nhiệm vụ tiễu phỉ, trừ gian ở Tây Bắc. Trong Chiến dịch Thu - Đông (1953 - 1954) mà đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”,

Nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã tự nguyện tham gia, đóng góp nhiều sức người,sức của cho chiến dịch: 7.310 tấn gạo (vượt chỉ tiêu 347 tấn, bằng hơn ¼ số lượng gạo toàn chiến dịch), 389 tấn thực phẩm, huy động 27.657 dân công vượt chỉ tiêu Trung ương giao. Các đơn vị là Trung đoàn 174, Trung đoàn 98 của Đại đoàn 316 đã trực tiếp tham gia chiến dịch với những trận đánh và chiến công xuất sắc trên đồi A1, A3, C1, C2, sân bay Mường Thanh. Đặc biệt trên đồi A1, cao điểm phòng ngự then chốt trên hướng Đông của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra giằng co hết sức gay go, ác liệt. Khối bộc phá gần 1.000 kg do bộ đội ta đào hầm và đặt trong lòng đồi A1 được phát nổ là hiệu lệnh xung phong của toàn mặt trận, tổng công kích vào sở chỉ huy của quân Pháp, bắt sống tướng Đờ Cát-Xtơ-Ri.

Quân và dân các dân tộc Tây Bắc đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt gần một thế kỷ xâm lược đất nước ta

III. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA LLVT QUÂN KHU (1975 - 2026)

1. Thành lập Quân khu 2 và cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc

Đại thắng mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh giải phóng trường kỳ của dân tộc ta, hoàn thành sự 

nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân. Cách mạng nước ta bước sang một kỷ nguyên mới,kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới của cách mạng, giữa năm 1976 Quân khu Tây Bắc được sáp nhập thành Quân khu 1, đồng chí Đàm Quang Trung được cử giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu; các đồng chí Vũ Lập, Lê Thuỳ, Lê Thanh làm Phó Tư lệnh, đồng chí Võ Quốc Vinh làm Phó Chính ủy Quân khu. Trước tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, bọn phản động Pôn pốt được hỗ trợ của bọn phản động quốc tế đã gây ra nạn diệt chủng ở Cam - Pu – Chia và tiến hành chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Tây Nam nước ta. Đồng thời trên tuyến biên giới phía Bắc kẻ thù cũng ráo riết chuẩn bị chiến tranh xâm lược. Để kịp thời điều chỉnh, bố trí lực lượng đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 21/06/1978 Quân khu 2 được thành lập, theo Sắc lệnh số 62/LCT của Chủ tịch nước, bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú. Ngày 01/7/1978 Bộ Tư lệnh Quân khu chính thức điều hành mọi hoạt động của LLVT Quân khu.

Ngày 17/02/1979 đến 16/3/1979 quân và dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu đã cùng với quân và dân cả nước dũng cảm kiên cường đánh bại cuộc tiến công xâm lược của đối phương ở biên giới phía Bắc. Riêng hướng Quân khu 2 đã chiến đấu với 3 quân đoàn của đối phương. Sư đoàn 316, Sư đoàn 355, Sư đoàn 313 đã cùng với đơn vị địa phương anh dũng chiến đấu đánh bại nhiều cuộc tiến công của đối phương, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề, buộc phải rút về bên kia biên giới. Ngày 16/3/1979 đến đầu năm 1989 trên tuyến biên giới phía Bắc vẫn còn nhiều phức tạp, đối phương tiếp tục có những hành động lấn chiếm biên giới; tuyến biên giới Hà Tuyên trở thành điểm nóng của cả nước; có những ngày chúng sử dụng đến gần 90.000 quả đạn pháo, cối các loại bắn phá sang đất ta; ngã ba Phong Quang, khu vực 4 hầm đồi Cô ích, đồi Đài, cao điểm 1509, đã trở thành những địa danh, chiến tích được cả nước biết đến. Trong thời gian này, LLVT Quân khu đã có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Quân đoàn 29 với 4 Sư đoàn và các đơn vị binh chủng trực thuộc được thành lập, phòng thủ hướng Hoàng Liên Sơn. Sư đoàn 356, 313, 314 cùng một số Trung đoàn của các tỉnh và chủ lực của Bộ thay phiên nhau làm nhiệm vụ chiến đấu phòng thủ tuyến Hà Tuyên. Sư đoàn 326 và một số đơn vị khác phòng thủ hướng Lai Châu. Ngoài các đơn vị của Quân khu 2 còn có sư đoàn 357, 411 và một số Trung, Lữ đoàn binh chủng trực thuộc làm nhiệm vụ dự nhiệm ở các tỉnh biên giới (mỗi tỉnh có từ 1 đến 2 Trung đoàn, huyện biên giới có Tiểu đoàn và Đại đội, xã biên giới có từ 1 Trung đội đến 1 Đại đội dân quân tự vệ). Trước quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta, đầu năm 1989 đối phương buộc phải xuống thang, rút khỏi nhiều điểm lấn chiếm trái phép. Qua 10 năm chiến đấu, LLVT Quân khu 2 cùng với đồng bào các dân tộc trên địa bàn đã anh dũng chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, vừa chiến đấu vừa xây dựng, từng bước trưởng thành, hiệu suất chiến đấu ngày càng cao, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực của đối phương, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, đã buộc đối phương phải rút khỏi những nơi đã lấn chiếm. Đó là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với quân và dân các dân tộc Tây Bắc, đồng thời cũng là thắng lợi chung của toàn quân, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

2. Xây dựng LLVT Quân khu “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Qua 40 năm đổi mới (1986 - nay), dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy những kết quả thành tích đạt được trong các cuộc kháng chiến, quân và dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu đã tập trung nỗ lực, củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc; chất lượng tổng hợp của LLVT Quân khu, nhất là bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị ngày một nâng cao. Bộ Tư lệnh Quân khu 2 lần lượt do các đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh kiêm Chính ủy; các đồng chí Đặng Quân Thụy, Đào Trọng Lịch, Trần Tất Thanh, Ma Thanh Toàn, Đỗ Bá Tỵ, Dương Đức Hòa, Phùng Sĩ Tấn, Phạm Hồng Chương, Trần Văn Bắc làm Tư lệnh Quân khu, đồng chí Lê Xuân Duy được giao Phụ trách Tư lệnh Quân khu; các đồng chí Huỳnh Đắc Hương, Phạm Hồng Cư, Phạm Sinh, Lò Văn Nhài, Trần Thụ, Nguyễn Hữu Thìn làm Phó Tư lệnh về chính trị. Từ năm 2006, thực hiện Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị, các đồng chí Lê Minh Cược, Nguyễn Ngọc Liên, Lê Hiền Vân, Trịnh Văn Quyết, Phạm Đức Duyên làm Chính ủy Quân khu. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ cách mạng mới, từ năm 1989 đến nay, LLVT Quân khu đã có nhiều sự điều chỉnh về lực lượng, biên chế, tổ chức. Một số đơn vị được giải thể như Quân đoàn 29, Sư đoàn 356, Sư đoàn 313, Sư đoàn 314, Sư đoàn 357, Sư đoàn 411, Sư đoàn 326… Một số đơn vị được rút gọn làm nhiệm vụ huấn luyện quân dự bị động viên như: Sư đoàn 355, các Trung đoàn trực thuộc tỉnh cũng được rút gọn. Các đoàn kinh tế - quốc phòng, các công ty được thành lập, đó là Đoàn 379, 326, 313, 314, 356, 345, Công ty Tây Bắc, Công ty 705, làm nhiệm vụ kinh tế kết hợp với quốc phòng. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tinh, gọn bộ máy hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; từ ngày 01/7/2025, cả nước thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã, phường); trên địa bàn Quân khu, các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Vĩnh Phúc sáp nhập thành tỉnh Phú Thọ; tỉnh Lào Cai và Yên Bái sáp nhập thành tỉnh Lào Cai; tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang sáp nhập thành tỉnh Tuyên Quang; các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên giữ nguyên địa giới hành chính. Thực hiện chủ trương xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến tới xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; Quân khu tổ chức sáp nhập Cục Hậu cần và Cục Kỹ thuật thành Cục Hậu cần - Kỹ thuật, tiếp nhận nguyên trạng Sư đoàn 304 từ Quân đoàn 2; giải thể 98 Ban CHQS cấp huyện; thành lập 25 Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực trực thuộc 6 Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên); tiếp nhận 5 Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự 5 tỉnh biên giới (Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên) và thành lập mới 529 Ban Chỉ huy quân sự xã, phường.
 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan

Nội dung đang cập nhật...

Bản đồ
Bình chọn
Thông tin nào trên Cổng TTĐT tỉnh mà bạn quan tâm nhất?
Thống kê truy cập
Hôm nay : 18
Hôm qua : 74